Tính chất dược lý của rau má

23:04 |

Rau má là một loại rau thông dụng có tác dụng sát trùng giải độc , thanh nhiệt lương huyết. Ngoài ra, rau má cũng là một loại dược thảo có tính bổ dưỡng rất cao,có nhiều sinh tố, khoáng chất, những chất chống oxy hoá, có thể dùng để dưỡng âm, cải thiện trí nhớ, làm chậm sự lão hoá, cải thiện vi tuần hoàn và chữa nhiều chứng bệnh về da.


Rau má còn có tên là Tích tuyết thảo. Loại thực vật nầy mọc lan trên mặt đất có lá trông giống như những đồng tiền tròn được xếp nối tiếp nhau nên còn gọi là Liên tiền thảo. Rau má có tên khoa học là Centella asiatica (L.) thuộc họ Hoa tán Umbelliferae, là một thứ rau dại ăn được thường mọc ở những nơi ẩm ướt như thung lủng, bờ mương thuộc những vùng nhiệt đới như Việt nam, Lào, Cambuchia, Indonesia, Malasia, Srilanka, Ấn độ, Pakistan, Madagascar . . Cây rau má có thân nhẳn , mọc lan trên mặt đất, có rể ở các mấu. Lá có cuống dài mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu. Lá hơi tròn, có mép khía tai bèo. Phiến lá có gân dạng lưới hình chân vịt. Hoa mọc ở kẻ lá. Cánh hoa màu đỏ hoặc tía.



Thành phần.

Tuỳ theo khu vực trồng hoặc mùa thu hoạch tý lệ các các hoạt chất có thể sai biệt. Thành phần của rau má bao gồm những chất sau: beta caroten, sterols, saponins, alkaloids, flavonols, saccharids, calcium, iron, magnesium, manganese, phosphorus, potassium, zinc, các loại vitamins B1, B2, B3, C và K.

Dược tính, công dụng.

Nền y học cỗ truyền Trung quốc , Ấn Độ cũng như y học dân gian nước ta đều có truyền thống sử dụng rau má làm thuốc hoặc làm thức ăn từ lâu đời. Truyền thuyết Trung quốc có nói đến một võ sư Thái cực quyền tên là Lý thanh Vân sống thọ đến 256 tuổi một phần là do ông thường dùng món rau má. Srilanka cũng có chuyện kể về một vị vua nổi tiếng vào thế kỷ thứ 10 tên là Aruna cũng nhờ vào rau má mà có đủ sinh lực để sống với những 50 phi tần của ông! Những huyền thoại nầy có lẻ đã bắt nguồn từ giá trị dưỡng âm, chống lão hoá và làm tăng cường hệ miển dịch của những hoạt chất có trong rau má. Hiện nay, nhiều khu vực nói tiếng Anh còn lưu truyền câu tục ngữ khuyến khích dùng rau má “Two leaves a day keep old age away”(Dùng 2 lá một ngày sẽ giúp bạn xa lánh tuổi già). Trong Đông y rau má thường được phối hợp với đậu đen hoặc mè đen chế thành hoàn để làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ em, người già hoặc người ốm mới dậy.



Theo y học cỗ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, vào Can, Tỳ Vị có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy. Từ những năm 1940, y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu những tác dụng của rau má. Rau má có những hoạt chất thuộc nhóm saponins (còn được gọi là tripernoids) bao gồm asiaticoside, madecassoside, madecassic acid và asiatic acid. Hoạt chất asiaticoside đã được ứng dụng trong điều trị bệnh phong và bệnh lao. Người ta cho rằng trong những bệnh nầy, vi khuẩn dược bao phủ bởi một màng ngoài giống như sáp khiến cho hệ kháng nhiểm của cơ thể không thể tiếp cận. Chất asiaticoside trong dịch chiết rau má có thể làm tan lớp màng bao nầy để hệ thống miển dịch của cơ thể tiêu diệt chúng.

Đối với da, nhiều công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non. Hiên nay rau má đã được sử dụng rất đa dạng dưới hình thức thuốc tiêm, thuốc bột, thuốc mở để điều trị tất cả các chứng bệnh về da như vết bỏng, vết thương do chấn thương, do giải phẩu, cấy ghép da, những vết lở lâu lành , vết lở do ung thư, bệnh phong, vẩy nến…



Ở Ấn độ, rau má còn được gọi là Brahmi hàm nghĩa một loại dược thảo có thể giúp con người tiến đến sự hoà hợp với tâm thức vũ trụ (knowledge of the Supreme Reality). Do đó, rau má thường có trong khẩu phần ăn của những vị thiền sư, những nhà yogi, những nhà thông thái. Trên thực tế, rau má tác dụng lên hoạt động của hệ thần kinh trung ương, làm giảm căng thắng tâm lý, tăng cường khả năng tập trung tư tưỡng và giúp cải thiện trí nhớ của người già. Người ta cho rằng dịch chiết rau má có hiệu quả tốt với bệnh Alzheimer nhờ vào những dẫn xuất của chất Asiaticoside có khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác động của các độc tố beta-amyloid.

Đối với tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành mạch và làm gia tăng tính đàn hồi của mạch máu. Do đó rau má cũng thường được dùng trong các chứng tăng áp lực tĩnh mạch ở các chi dưới.



Trong những năm gần đây, nhiều phương tiện thông tin đã phổ biến cách chữa bệnh thấp khớp mãn tính bằng cách ăn 2 lá rau má tươi mỗi ngày. Một chương trình phóng sự của đài truyền hình số 9 ở Sydney vào tháng 12/2003 cũng cho biết một số người ở Úc đã chữa khỏi bệnh thấp khớp bằng cách nầy. Phương pháp nầy phát xuất từ quyển sách “Arthritis and Paradoxycal Pennywort” (Bệnh thấp khớp và lá rau má) của ông Russ Maslen.



Ông đã học được kinh nghiệm chữa bệnh nầy từ một nông dân ở Brunswick Valley vào khoảng năm 1989 khi ông đang tiến hành xây dựng và quản lý công viên bảo tồn di sản thiên nhiên ở vùng nầy. Sau đó chính ông đã hướng dẫn vợ ông tên là Beryl chữa khỏi chứng sưng đau các khớp xương ở bàn tay. Ông nói “Mỗi ngày chỉ cần nhai và nuốt 2 lá rau má liên tục , chỉ 2 lá chớ không phải một hay ba lá , thì một thời gian sau sẽ có thể chữa khỏi hoặc làm giảm bớt bệnh thấp khớp”. Đơn giản đến khó tin! Phải chăng hiệu quả chữa bệnh ở đây là do ảnh hưởng của rau má hoặc những dẫn xuất của nó trong tác dụng chống viêm, chống oxy hoá hoặc tăng cường hệ miển dịch của cơ thể? Hy vọng nhiều năm sau khoa học sẽ làm sáng tỏ điều nầy. Điều cần lưu ý trong việc dùng rau má để chữa bệnh thấp khớp là không được dùng quá liều lượng cần thiết. Dùng bao nhiêu lá phải nằm trong giới hạn dung nạp và chuyển hoá của Tỳ vị. Mặc dù rau má không độc nhưng lại có tính “hàn” nên có thể làm tăng tính “thấp” trong bệnh thấp khớp làm bệnh nặng thêm. Ngược lại, nếu chỉ dùng vài lá mỗi ngày, ai cũng có thể dùng và dùng lâu dài mà không sợ có phản ứng phụ.



Một vài toa thuốc có sử dụng rau má.

Toa căn bản ra đời vào khoảng năm 1950 do cụ Võ văn Hưng , một lương y giàu kinh nghiêm ở miền đông nam bộ soạn. Sau đó toa căn bản được Bác sĩ Nguyển văn Hưởng, Bộ trưởng Bộ Y tế thời bấy giờ hưởng ứng và khuyến khích sử dụng. Toa căn bản gồm 10 vị là toa thuốc rất quen thuộc ở các Bệnh viện, trạm y tế từ bộ đội đến nhân dân, đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỷ. Toa căn bản có đặc điểm là không có độc tính, dễ sử dụng, có tác dụng kích thích tiêu hoá, nhuận gan, nhuận trường, lợi tiểu, giải độc và tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Tuỳ theo tình trạng của người bệnh và điều kiện của địa phương mà linh động gia giảm vị thuốc hoặc liều thuốc.

Toa thuốc gồm: Rau má 8g, Rể tranh 8g, Lá muồng trâu 4g, Cỏ mần chầu 8g Cỏ mực 8g, Cam thảo nam 8g.Ké đầu ngựa 8g, Củ sả 4g, Gừng tươi 4g, Vỏ quít 4g.

Đổ 3 chén nước sắc còn non một chén, uống lúc thuốc còn ấm.
Hoàn ích khí, dưỡng âm, trợ cơ, cứu đói.

Có thể làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ em, người già hoặc ngưòi ốm mới khỏi hoặc dùng làm lương khô mang theo khi đi xa phòng khi thiếu thốn thực phẩm.

Toa thuốc gồm 4 vị : Lá dâu tầm, Mè đen, Bột củ mài và Rau má.

Mỗi vị ngang nhau, tán bột làm hoàn, mỗi hoàn khoảng 5g. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 1 hoặc 2 hoàn.


Thoái nhiệt đơn.

Có công dụng giảm nhiệt, hạ sốt, trừ khát, trấn kinh.

Rau má 15%, Hoạt thạch 30%, Sắn dây 20%, Sài hồ 15%, Thạch cao 10%, Cam thảo 10%.

Tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4g.


Thuốc hạ huyết áp.

Rể nhàu 16g, Rể kiến cò 12g, Lá tre l2g, Rể tranh 12g,Rể cỏ xước 12g, Rau má 16g, Lá dâu 12g

Sắc uống hoặc đóng viên làm trà uống thay nước hàng ngày.


Sốt xuất huyết.

Rau má 20g, Cỏ mực 16g, Rau sam 16g, Đậu đen 16g. Sắc uống.


Nước ép rau má.

Nước ép rau má là một cách sử dụng rau má đơn giản và thông dụng nhất. Nước ép rau má tươi có đầy đủ các hoạt chất và tác dụng đã đề cập. Mỗi người, mỗi ngày có thể dùng từ 30 đến 40g rau má tươi. Lá rau má mua về rửa sạch, giả hoặc xay nát. Cho thêm một ít nước vào. Vắt và lọc bỏ xác. Thêm vào một ít đường cho dễ uống.

Lưu ý.

Rau má có tính lạnh nên những người có Tỳ Vị hư hàn, hay đầy bụng hoặc đi tiêu lỏng cần cẩn thận khi dùng. Những trường hợp nầy chỉ nên dùng vài lá mỗi lần hoặc khi dùng kèm theo một vài lát gừng sống. Dùng ngoài da không giới hạn.

Lương y Võ Hà

Theo - Sưu tầm
Read more…

Thường xuyên ăn ngải cứu có sao không?

22:58 |
Cây ngải cứu (còn gọi là ngải diệp) thuộc họ cúc, thường mọc hoang, nhưng nay đã được trồng phổ biến ở nhiều nơi vì công dụng y học của nó. Theo y học cổ truyền, ngải cứu có vị đắng, cay, tính hơi ấm có tác dụng điều hòa khí huyết, trừ hàn thấp, an thai, cầm máu...




Bên cạnh đó, nó còn có tác dụng bồi dưỡng cơ thể, trị bệnh nội thương ngoại cảm, trị bệnh giun, chữa đau bụng, kinh nguyệt không đều, còn được dùng để băng bó sai khớp... Tinh dầu ngải cứu có tác dụng kháng khuẩn. Vì vậy, ngải cứu vừa là loại cây thuốc chữa bệnh, vừa có thể chế biến những món ăn ngon và bổ.

Trứng gà vị mặn tính lạnh, làm yên 5 tạng, bổ khí huyết, mát cổ họng, an thai, trị ho hen, kiết lỵ, động thai, bổ dưỡng làm sinh đẻ dễ dàng. Lòng đỏ trứng gà có vị ngọt, tính ấm đi vào 3 kinh: tâm, tì, vị, có tác dụng dưỡng âm, minh tâm, vỗ tỳ vị, trị mất ngủ do âm hư,...

Trứng gà ngải cứu cũng là món ăn bài thuốc bổ dưỡng nâng cao sức khỏe. Có thể dùng 1 - 2 quả trứng/ngày xào ngải cứu ăn lúc còn nóng. Tuy nhiên nếu ăn nhiều trứng quá cũng không tốt, càng không nên ăn ngày này qua ngày khác.

Mặc dù là món ăn bổ dưỡng nhưng không phải ai ăn cũng có tác dụng bồi bổ sức khỏe ví dụ như những người bệnh sỏi thận, xơ vữa động mạch vành... nên hạn chế ăn trứng. Những người ốm dậy, thể trạng còn yếu, người già, phụ nữ sau sinh nếu không có bệnh như nói trên thì nên ăn cách ngày một quả trứng là tốt nhất. Bên cạnh đó, phải ăn thêm các loại thực phẩm khác như cá, thịt, trái cây... sẽ tốt hơn cho sức khỏe. Tốt nhất nên ăn cách ngày hoặc 7 - 10 ngày là một liệu trình.


Theo - Eva.vn
Read more…

Những bài thuốc từ cây ngải cứu

22:57 |
Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia Vulgaris, thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa. Ngải cứu có thể dùng để chế biến các món ăn hoặc được sao khô lên làm thuốc. Dù dùng ở bất kì hình thức nào thì cây ngải cứu cũng có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe và chữa bệnh.








Dưới đây là một số công dụng phổ biến và hữu hiệu của cây và lá ngải cứu:

1. Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

2. - Giúp an thai: Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai. Ngải cứu không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai.

3. Sơ cứu vết thương: Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức,

4. Trị mụn, mẩn ngứa: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.

5. Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt: Lấy 300gr ngảic cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1-2 tuần.

6. Lưu thông máu lên não: Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn.

7. Suy nhược cơ thể, kém ăn: Lấy 250gr ngải cứu, 2 quả lê, 20gr câu kỷ tử, 10gr đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150gr, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1-2 tuần.

8. Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh: Lấy 300gr ngải cứu, 100gr lá khuynh diệp, 100gr lá bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhấc xuống, xông 15 phút. Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100gr lá tía tô, 100gr tần dầy lá, 50gr lá sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3-5 ngày.

Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều là làm cho thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật; Sau vài lần có thể dẫn đến kinh quyết (co cứng), nói sàm, thậm chí tê liệt. Kiểm tra bằng kính hiển vi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,…


Theo - TTVN
Read more…

Tỏi ngâm giấm có công dụng gì?

22:55 |
Theo quan điểm của Đông y: Củ tỏi có vị cay, tính ấm, không độc, vào các kinh Tỳ, Vị, Phế và Đại tràng. Có tác dụng ôn trung hành khí (ấm bụng tăng cường chuyển hóa), giải độc, sát trùng. Thường dùng chữa bụng ngực lạnh đau, ho gà, cảm mạo, kiết lỵ, ỉa chảy, mụn nhọt, lở ngứa, ... Nhưng theo Đông y, tỏi là thứ cay nóng, có tính kích thích mạnh, chỉ nên dùng lượng nhỏ. Những ngườn âm hư hỏa vượng, lưỡi lở loét, mắt đỏ, trĩ sang không nên dùng.




Câu hỏi của ông "Tỏi ngâm giấm 6-7 ngày biến thành màu xanh có hại hay không?", theo chúng tôi nghĩ, tỏi đã biến màu xanh cũng không có hại.

Bởi lẽ, thứ nhất: Theo các tài liệu nghiên cứu về dược lý hiện đại, hoạt chất của tỏi chỉ bị phá hoại ở nhiệt độ cao và trong môi trường kiềm; trong môi trường a-xít nhẹ ít có ảnh hưởng, mà giấm cũng là một loại a-xít nhẹ (acetic acid).

Thứ hai: Trong các sách về Đông dược thời cổ cũng như thời nay, đều không thấy nói là tỏi không được dùng chung với giấm.

Thứ ba: Tỏi ngâm giấm đã được sử dụng từ rất lâu và rất phổ biến, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có thông báo về hiện tượng ngộ độc hoặc tác dụng phụ.

Tỏi ngâm giấm cũng là một thứ thuốc, đã được sử dụng từ nhiều thế kỷ trước. Ví dụ, trong sách "Tần Hồ tập giản phương" của nhà đại dược học Lý Thời Trân có chép bài thuốc chữa vùng ngực, bụng lạnh đau như sau: Tỏi đem ngâm giấm 2-3 năm, sau đó hàng ngày thỉnh thoảng ăn vài ba nhánh.

Theo - Vườn nhà thuốc
Read more…

8 điều nghiêm cấm sau bữa ăn

22:53 |

Trong vòng 1 tiếng đồng hồ sau khi ăn cơm xong, bạn tuyệt đối không nên làm những việc dưới đây nhé!

1. Tắm
Sau khi ăn cơm xong, dạ dày cần một lượng máu lớn để phục vụ cho hệ tiêu hóa hoạt động. Lúc này nếu bạn đi tắm ngay, lượng máu ấy sẽ chuyển bớt sang "phục vụ" cho hoạt động cơ thể. Điều này khiến chức năng tiêu hóa bị giảm sút, không tốt cho sức khỏe.

2. Đi bộ
Đối với một số người, cứ ăn cơm xong là họ đi bộ. Nhưng thực tế, điều này rất không tốt cho sức khỏe, vì khi đi bộ, cơ thể phải vận động nhiều, ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng của hệ tiêu hóa.
vcam

3. Hát Karaoke
Sau khi ăn xong, lượng thức ăn trong dạ dày tăng lên, thành dạ dày sẽ vì thế mà mỏng đi. Việc hò hét, hát karaoke sẽ khiến cho cơ hoành hạ thấp xuống, áp lực khoang bụng tăng lên, không tốt cho sức khỏe chút nào. Tình trạng này kéo dài sẽ khiến bạn tiêu hóa kém, thậm chí có thể gây đau tức dạ dày.

4. Lái xe
Như đã nói ở trên, dạ dày cần một lượng máu lớn để tiêu hóa thức ăn. Vì vậy, nếu lái xe, lượng máu ấy cũng phải chuyển bớt sang cho não bộ. Tuy nhiên, lượng máu cung cấp cho não bộ sau khi ăn cơm xong không nhiều như bình thường, điều này khiến cho việc lái xe dễ bị mất tập trung, không may có thể xảy ra tai nạn.

5. Ăn hoa quả
Dạ dày cần 1 đến 2 tiếng để tiêu hóa hết toàn bộ thức ăn. Bởi vậy, nếu dạ dày lại phải tiếp đón một loạt hoa quả khác, chắc chắn sẽ không tải nổi. Lượng hoa quả đưa vào sẽ bị chặn bởi số thức ăn trước đó. Điều này khiến cho hoa quả không được tiêu hóa tối đa như bình thường.

6. Uống trà
Uống trà ngay sau khi ăn cơm sẽ làm loãng dịch vị dạ dày, ảnh hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thụ các thành phần dinh dưỡng.

Trong lá trà xanh có chứa axit tannic, sau khi ăn cơm xong uống trà, dạ dày chưa tiêu hóa hết protein đã phải tiếp nhận axit tannic từ trà xanh. Hai chất này kết hợp với nhau tạo thành kết tủa khó tiêu hóa, ảnh hưởng đến việc hấp thụ protein.

Ngoài ra, trà xanh cũng cản trở sự hấp thụ sắt, lâu dài sẽ dẫn đến thiếu sắt trong cơ thể.

7. Hút thuốc
Hút thuốc sau bữa ăn khiến cho các chất có hại trong thuốc lá dễ vào cơ thể hơn. Hút 1 điếu thuốc lá sau bữa ăn trúng lượng độc chất nhiều hơn tổng 10 điếu thuốc lá khi hút bình thường. Bởi sau khi ăn cơm, dạ dày và ruột co bóp mạnh, tuần hoàn máu nhanh. Lúc này khả năng cơ thể hít khói thuốc độc hại là cao nhất, chất độc hại trong thuốc dễ dàng đi vào cơ thể hơn bình thường, do đó sẽ càng làm tăng mức độ gây tổn hại đối với sức khỏe con người.

8. Nới thắt lưng
Nới lỏng thắt lưng sau khi ăn no sẽ mang lại cảm giác thoải mái dễ chịu. Nhưng cũng chính vì thế mà nó mang lại không ít tai hại đâu nhé! Việc nới lỏng thắt lưng sẽ dẫn đến sự chảy sệ của nội tạng trong khoang bụng, dạ dày cũng theo đó mà sệ xuống. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến bệnh sa dạ dày.
Read more…

8 mẹo hay chữa viêm họng

09:47 |
Thời tiết giao mùa, thời tiết thay đổi đột khiến người ta dễ bị lạnh và viêm họng. Những mẹo vặt sau sẽ giúp bạn nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này.

Súc miệng bằng nước ấm. Việc này sẽ giúp bạn nhanh chóng xua được cảm giác đau rát cổ họng. Hãy pha một thìa muối với khoảng 250ml nước lọc ấm và súc miệng mỗi giờ một lần.

Uống trà mật ong. Trà và mật ong được xem như những loại thần dược giúp bạn nhanh chóng loại bỏ cảm giác đau họng.

Hãy cho 1 thìa mật ong khuấy đều trong chén trà và thêm ½ quả chanh vắt. Ăn hỗn hợp gồm một thìa nước gừng và một thìa mật ong trộn với nhau. Sau đó uống cốc sữa nóng, các cơn ho và đau họng sẽ giảm.

Dùng đồ uống nóng. Đây là cách hữu hiệu trị chống viêm họng. Các đồ uống nóng là trà, cà phê, nước chanh ấm.

Tránh khói thuốc lá. Thuốc lá là thủ phạm khiến bạn đau họng và làm cho việc đau họng trở nên xấu hơn.Vì thế tránh hút thuốc, ngửi khói thuốc lá là việc làm rất cần thiết.

Vỏ xoài và nước lọc. Pha 10ml nước vỏ xoài với 125ml nước lọc đun sôi để nguội và súc miệng hàng ngày.

Bột quế, hạt tiêu và mật ong. Dùng 1 thìa bột quế đun với một cốc nước có thêm một chút hạt tiêu và 2 thìa mật ong dùng để uống sẽ giúp bạn nhanh chóng khắc phục được tình hình.

Nghệ cũng được dùng để chữa ho. Lấy ½ cốc nước nóng, thêm một chút muối. Sau đó cho nửa thìa bột nghệ rồi quấy đều và uống ngày một lần. Uống liên tục 3 ngày.

Hít nhiều hơi nước nóng trong lúc tắm nước máy hoặc nghiêng đầu trên chậu nước nóng đang bốc hơi, há miệng hít hơi nước nóng lên. Mỗi lần làm 5 phút, mỗi giờ làm một lần.

Nguồn: ANTĐ
Read more…

Bí kíp hay chữa ho bằng nghệ tươi

09:46 |
Dưới đây là một số công thức chữa bệnh giúp bạn và người thân có thể áp dụng chữa trị trong cuộc sống hàng ngày nhé!

Để chữa ho, bạn có thể dùng nghệ tươi để điều trị. Lấy củ nghệ tươi gọt vỏ, cắt nhiều lát mỏng. Chanh tươi gọt vỏ, cắt lát mỏng, lượng bằng với nghệ (chừng 6 -7 lát). Củ gừng tươi cũng rửa sạch, cắt lát mỏng nhưng lượng bằng một nửa nghệ.

Ba nguyên liệu ấy cho vào tô hay chén cùng một ít nước chín, và hai muỗng mật ong (hoặc hai muỗng đường phèn) rồi đem chưng cách thủy, dùng nước chưng này để chữa ho rất hay. Nếu dùng luôn cả xác thì càng tốt

“Đặc sản” vùng quê

Khoai lang là loại rau dễ trồng, có ở khắp các vùng quê. Loại rau này tuy dân dã nhưng ăn rất ngon và bùi. Với nhiều lợi ích: mát, bổ, tính bình, vị ngọt, không độc, ích khí lực, kiện tỳ vị, bổ thận âm, dùng chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc nên nhiều người gọi rau khoai lang là “sâm nam”.

Rau lang tươi luộc chín có tác dụng nhuận tràng rất hay. Người bệnh tiểu đường thường xuyên dùng món rau lang luộc cũng tốt vì chúng cũng có đặc tính giảm đường huyết.

Cần tây rất tốt cho sức khỏe

Đông y cho rằng: Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch,… có thể phòng và chống được nhiều loại bệnh. Trong cần tây chứa nhiều axit amin tự do, tinh dầu, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não.

Loại rau này cũng chứa nhiều vi lượng muối vô cơ, cung cấp khoáng chất sắt, kẽm… do vậy mà thích hợp dùng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não.
Read more…

Mẹo hay trị chứng ngủ ngáy

09:45 |

Ngủ ngáy tuy không nguy hiểm đến sức khỏe nhưng rõ ràng nó sẽ gây cho bạn rất nhiều phiền toái. Để khắc phục chứng ngủ ngáy không khó như bạn vẫn tưởng, đơn giản hãy áp dụng những bí kíp đơn giản sau:

“Thủ phạm” gây nên chứng ngáy ngủ

- Do bị cảm lạnh, dị ứng hay mắc phải chứng sùi vòm họng.

- Thường xảy ra phổ biến ở những người nặng cân, béo phì.

- Do mắc phải chứng viêm xoang mãn tính khiến người bệnh phải thở bằng miệng.

- Uống rượu và sử dụng thuốc ngủ nhiều.

- Cũng có thể là do di truyền.

Tránh uống rượu ít nhất 4 giờ trước khi đi ngủ vì rượu sẽ là một thứ ""siêu an thần" khi uống quá gần giờ ngủ.

Đi ngủ theo giờ giấc đều đặn: Những người hay bị làm rối giấc ngủ hoặc thiếu ngủ rất dễ ngáy. Nếu bạn tập được thói quen đi ngủ theo giờ giấc đều đặn thì cơ thể sẽ không lâm vào tình trạng quá mệtt mỏi và giúp khỏi ngáy.

Ngủ ở tư thế nằm nghiêng hơn là nằm ngửa, hàm dưới có khuynh hướng trễ xuống làm bạn há miệng và dễ ngáy. Nếu bạn có thói quen lúc đầu nằm nghiêng rồi lại xoay sang nằm ngửa, chỉ có cách nhờ "bà xã"" hay ai đó xoay bạn nằm nghiêng trở lại. Nếu không nhờ ai được, bạn có thể đính một chiếc tất vào sau cổ áo, lấy một quả bóng tennis luồn vào tất túm lại để làm vật cản giúp bạn khỏi xoay ngửa ra.
Trước khi đi ngủ từ 2 – 3 tiếng bạn nên tránh xa các loại đồ uống có chứa cồn hoặc uống những loại thuốc có tác dụng an thần. Những loại thuốc này có chứa chất kích thích gây nên những ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh làm cho các cơ ở cổ họng bị nới lỏng hơn – “thủ phạm” gây nên chứng ngủ ngáy.

Tăng độ ẩm cho phòng ngủ, bởi lẽ độ ẩm trong phòng ngủ thấp sẽ khiến cho cổ họng bị khô, và dễ gây nên hiện tượng ngủ ngáy.

Nên nằm gối cao hơn bình thường để giúp cho luồng khí trong cổ họng đi thẳng theo luồng khí.

Không nên ăn những loại thực phẩm được chế biến từ bơ sữa trước khi đi ngủ bởi nó có thể gây nên những ảnh hưởng xấu tới quá trình hô hấp của bạn trong khi ngủ, gây nên hiện tượng ngủ ngáy.

Nếu bạn thuộc tuýt người béo phì và quá dư thừa cân nặng, cần áp dụng các biện pháp giảm cân. Vì những người dư cân thường có cần cổ to và dày khiến đường hô hấp trở nên hẹp, gây ra những âm rung khi lưỡi và phần họng trên tiếp xúc với phần mềm vòm miệng và lưỡi gà.





Nguồn:afamily.vn
Read more…

Cách hay trị cảm lạnh

09:44 |


Thời tiết thay đổi đột ngột, dầm mưa, ngấm nước mưa rất dễ khiến bạn bị cảm lạnh. Lúc này, nếu bạn cố gắng làm ấm tay chân sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng vì nhiệt sẽ đẩy máu lạnh về tim, phổi và não làm tiếp tục giảm thân nhiệt, có thể dẫn đến tử vong.
Cảm lạnh (nhiễm lạnh) là biến cố lạnh một phần hoặc toàn bộ cơ thể do tác động kéo dài của nhiệt độ dưới ngưỡng bình thường trong môi trường lạnh thời gian dài nên không tự điều chỉnh được thân nhiệt khiến nhiệt độ cơ thể bị giảm. Không chỉ người già thể trạng yếu dễ bị cảm lạnh, hay trẻ nhỏ đội mưa gió tới trường bị ướt, thân nhiệt giảm mà ngay cả người lớn nếu chống chọi, dọn dẹp, dầm mình trong bão lũ nhiều giờ cũng có thể mắc cảm lạnh.

Khi mắc chứng cảm lạnh thường có những biểu hiện như rùng mình, nói líu nhíu, thở chậm một cách bất thường, da lạnh tái, mất phối hợp vận động, mệt ngủ lịm, lãnh đạm...

Khi trong nhà có người bị cảm lạnh, người nhà cần theo dõi nhịp thở, nếu bị ngưng thở, cần thực hiện hô hấp nhân tạo ngay. Sau đó đưa bệnh nhân ra khỏi chỗ lạnh. Nếu không thể đưa vào nhà thì hãy bảo vệ bệnh nhân tránh gió, phủ kín đầu, cởi bỏ quần áo ướt (nếu có), đồng thời gọi xe cấp cứu ngay.

Không dùng nước nóng, miếng sinh nhiệt hoặc đèn tỏa nhiệt để làm ấm bệnh nhân. Thay vào đó, áp gạc ấm vào cổ, thành ngực, háng để cơ thể người bệnh được ấm trở lại. Tuyệt đối không cố gắng làm ấm tay chân bệnh nhân. Vì nhiệt sẽ đẩy máu lạnh về tim, phổi và não làm tiếp tục giảm thân nhiệt và có thể dẫn đến tử vong.

Những phương pháp "đuổi" cảm

Nên cho người bị cảm lạnh ăn cháo giải cảm. Cháo nấu nhuyễn, cho thêm lá tía tô, hành răm, gừng (nếu cần cho thêm 1 lòng đỏ trứng gà càng tốt). Khi ăn, nên cúi đầu xuống để mũi hít hơi nóng và mùi tinh dầu của tía tô, hành, gừng. Ăn xong trùm chăn kín từ 10 - 15 phút cho cơ thể thoát mồ hôi là được. Cháo này còn chống xung huyết vùng mũi.
Nhiều bệnh nhân bị hạ đường huyết, bủn rủn chân tay, toát mồ hôi, chân không đứng vững; lúc này biện pháp nhanh và hiệu quả nhất là đánh gió, giải cảm. Có rất nhiều cách đánh gió, giải cảm. Tùy điều kiện cụ thể mà áp dụng.

Giải cảm với gừng tươi: Lấy một nhánh gừng tươi giã nhỏ với tóc rối, trộn cùng rượu bọc vào miếng vải thưa, đánh gió. Khi đánh gió nhớ đánh xuôi từ trên xuống và tránh các hạch bạch huyết ở mang tai, nách, háng, bên trong khuỷu tay, khoeo chân sẽ nhanh chóng được giải cảm. Mục đích của đánh gió là đưa khí nóng vào cơ thể ngay trên kinh thái dương bằng cách thấm qua da.

Bạn cần lưu ý: Nên chọn củ gừng to, rửa sạch, cho vào cối giã nhuyễn, vắt lấy nước cốt rồi thoa lên vùng cần đánh gió, lấy bã chà xát cho đến khi người nóng lên. Sau đó, dùng khăn khô lau sạch bã gừng. Cách làm này giúp vùng cơ thể được chà xát sẽ nóng ấm lên, mang lại cảm giác dễ chịu.

Đuổi gió bằng đồng xu: Dùng 1 đồng xu tròn (hoặc 1 muỗng bằng kim loại cạnh tròn, không bén), 1 chai dầu (cù là, dầu nóng...). Bắt đầu bôi dầu và dùng tay chà xát dọc hai bên cột sống, cổ, vai. Dùng cạnh của đồng xu hoặc muỗng chà vào vùng đó theo chiều hướng lên hoặc xuống. Chà nhiều lần cho mặt da nóng lên hoặc đến khi cơ thể mất cảm giác ớn lạnh và đau nhức cổ gáy thì dừng.

Cần lưu ý là nhiều người tưởng phải chà xát thật mạnh cho tới khi vùng đánh gió bầm tím lên thì mới tốt là không đúng. Vì như thế vô tình đã gây nên xuất huyết dưới da do chà xát quá mạnh.

Xông lá: Nếu cảm lạnh nặng, có thể dùng nồi xông. Lá xông nấu từ các loại lá thơm chứa tinh dầu, có tác dụng tân ôn giải biểu, trừ phong thông khiếu, kháng sinh khử trùng... gồm: Lá chanh, lá sả, tía tô, kinh giới, bạc hà, lá mít, lá nhãn, cây cứt lợn, lá gừng, lá nghệ, lá tre, hương nhu, ngải cứu. Các thứ lá trên rửa sạch cho vào nồi đổ vừa nước. Dùng lá chuối bịt miệng, đậy nắp nấu sôi. Bệnh nhân được bố trí trong phòng kín, tránh gió lùa. Bệnh nhân trùm kín chăn, ngồi xông từ 15-20 phút.

Khi xông, các loại dược liệu, các chất trong lá sẽ bốc thành hơi nước theo đường hô hấp vào đến tận phế nang. Trong quá trình này sẽ diễn ra sự trao đổi chất với cơ thể. Vì vậy, đường hô hấp sẽ được thông suốt, giảm đau, giảm tiết, hạ khí. Bệnh nhân sẽ bớt đau đầu, giảm chóng mặt và khó thở, da dẻ mềm mại và mát mẻ hơn. Các loại lá khi được nấu lên sẽ tạo thành chất kháng sinh, tinh dầu, có tác dụng chống viêm, thông phế khí, giảm đau, hạ sốt. Tuy nhiên, cũng chỉ nên xông từ 1-2 lần trong một trận cảm vì xông nhiều sẽ bị hao tân dịch, thoát dương, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

Theo BS. Hoàng Xuân Đại
Read more…